Marcom là gì? Vai trò của Truyền thông Marketing | Ready Agency

Marcom là gì? Vai trò của Truyền thông Marketing

  Marketing  |  27/03/2020


marcom-la-gi-01

Truyền thông marketing (Tiếng Anh: Marketing Communication, marcom(s), marcomm(s)) sử dụng kết hợp nhiều kênh và công cụ marketing, truyền thông khác nhau:[1] Truyền thông Marketing được dùng với mục đích tạo ra sự tương tác của thương hiệu với khách hàng tiềm năng trên thị trường. Việc tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông nhiều qua nhiều kênh như Quảng cáo, Bán hàng cá nhân, Marketing trực tiếp, Tài trợ, Truyền thông, Mạng xã hội, Khuyến mãi và Quan hệ công chúng.[1]

Truyền thông Marketing là một phần của marketing hỗn hợp vốn được phân loại theo mô hình 4Ps gồm có: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (phân phối), Promotion (xúc tiến),được sử dụng trong hoạt động Marketing hàng hóa. Theo thời gian, mô hình này được phát triển thành 7Ps theo sự phức tạp và cải tiến của marketing hiện đại. Các chuyên gia marketing đã đưa ra 3P bổ sung khác là Process (quy trình), People (con người), và Physical Evidence (bằng chứng vật lý) tăng cường sức mạnh cho hoạt động Marketing khi sản phẩm không còn dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà còn là những dịch vụ vô hình.[2]

marcom-la-gi-02
4Ps gồm có: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (phân phối), Promotion (xúc tiến) – Ready Agency

Để kết hợp hiệu quả giữa Marketing và Truyền thông, cần có kế hoạch cụ thể, dung hoà được cả hai công việc, gọi là IMC – viết tắt của Integrated Marketing Communications, hay còn được gọi là truyền thông Marketing tích hợp (truyền thông hỗn hợp). IMC là sự phối hợp những hoạt động truyền thông và marketing, gắn bó chặt chẽ với nhau, nhằm chuyển giao một thông điệp rõ ràng, nhất quán và thuyết phục về một tổ chức, doanh nghiệp và những sản phẩm của tổ chức, doanh nghiệp đó tới khách hàng, công chúng.

Tổng quát

Truyềng thông Marketing bao gồm các công việc quảng cáo, khuyến mãi, bán hàng, thương hiệu và khuyến mãi trực tuyến.[3] Quá trình này cho phép công chúng biết hoặc hiểu về thương hiệu hơn. Xây dựng thương hiệu thành công liên quan đến việc nhắm đúng các đối tượng mục tiêu – người sẽ đánh giá cao chương trình marketing của doanh nghiệp.

Quảng cáo là một phần nhỏ nhưng quan trọng của Truyềng thông Marketing; Truyềng thông Marketing hỗn hợp là một bộ công cụ có thể được sử dụng để truyền tải một thông điệp rõ ràng và nhất quán đến đối tượng mục tiêu. Nó cũng thường được gọi là quảng cáo hỗn hợp. Crosier (1990) nói rằng tất cả các thuật ngữ đều có cùng một ý nghĩa trong bối cảnh của 4Ps: Sản phẩm, giá cả, địa điểm và khuyến mãi. [1] Giá cả có thể là một thông điệp cho đối tượng mục tiêu. Ví dụ, so sánh túi 50 USD với túi 10 USD, người khảo sát xem chiếc túi 50 USD là một mặt hàng xa xỉ hoặc bền hơn, tốt hơn.

Kế hoạch Marketing xác định các cơ hội chính, các mối đe dọa, điểm yếu và điểm mạnh, đặt ra các mục tiêu và phát triển một kế hoạch hành động để đạt được các mục tiêu đó. Mỗi phần của 4P’s là một đối tượng riêng; chẳng hạn, mục tiêu về giá có thể là giúp tăng doanh số bán hàng ở một thị trường nhất định bằng cách định giá sản phẩm hoặc dịch vụ thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh. Điều này tạo ra một sự thay đổi đáng kể trên thị trường bởi vì nhiều người trong thị trường mục tiêu sẽ đến làm ăn với doanh nghiệp của bạn hơn đối thủ, bởi vì giá cả là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của marketing, nó có thể thay đổi toàn bộ thị trường theo hướng tích cực và tiêu cực.

marcom-la-gi-03
Truyền thông marketing thường đóng vai trò lớn nhất trong công tác truyền thông của một công ty – Ready Agency

Truyền thông

Truyền thông là một khía cạnh quan trọng của marketing hỗn hợp. [6] Truyền thông marketing thường đóng vai trò lớn nhất trong công tác truyền thông của một công ty, có thể là để trình bày các giá trị, mục tiêu của công ty hoặc các sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho các nhà đầu tư, khách hàng hoặc công chúng nói chung. Trong thế kỷ 21, các mục tiêu truyền thông tập trung vào các thông điệp cụ thể hơn, nhắm mục tiêu vào các nhóm khách hàng hoặc cá nhân để tạo ra phản hồi cao và tương tác thương hiệu lớn hơn. [6]

Khi việc kinh doanh ngày càng mở rộng ra toàn cầu với khả năng kết nối Internet, điện thoại di động và phương tiện truyền thông xã hội nhiều hơn, những thách thức mới tồn tại như tiếp cận đến khách hàng mục tiêu ở các thị trường nước ngoài. Sự thay đổi trong nền kinh tế toàn cầu và tiếp cận các thị trường mới cũng dẫn đến nhu cầu lớn hơn về vận chuyển sản phẩm và các dịch vụ liên quan. Để có hiệu quả, các chiến lược truyền thông phải hội tụ với các mục tiêu marketing, đồng thời cũng phải phù hợp với các ngôn ngữ địa phương, phương ngữ và chuẩn mực văn hóa.

Truyền thông bên ngoài có thể bao gồm các câu hỏi nghiên cứu thị trường, trang web văn phòng, bảo lãnh, báo cáo thường niên của công ty và thuyết trình cho các nhà đầu tư. Truyền thông nội bộ có thể là các tài liệu tiếp thị, bảng giá, danh mục sản phẩm, thuyết trình bán hàng và truyền thông quản lý. Mặt khác, mỗi thị trường đòi hỏi các loại truyền thông khác nhau. Ví dụ, thị trường công nghiệp đòi hỏi giao tiếp cá nhân nhiều hơn nhưng thị trường tiêu dùng đòi hỏi giao tiếp phi cá nhân. [6]

Marketing

Marketing là quá trình kinh doanh tạo mối quan hệ và làm hài lòng khách hàng. Tập trung vào khách hàng, một trong những thành phần hàng đầu của quản lý doanh nghiệp.

Hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association, AMA) cho định nghĩa sau: “Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình để nhằm tạo ra, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng, và nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành viên trong hội đồng cổ đông”[7].

Có thể xem như marketing là quá trình mà những cá nhân hoặc tập thể đạt được những gì họ cần và muốn thông qua việc tạo lập, cống hiến, và trao đổi tự do giá trị của các sản phẩm và dịch vụ với nhau (MM – Kotler).

Theo định nghĩa dành cho các nhà quản lý, marketing được ví như “nghệ thuật bán hàng”, nhưng khá ngạc nhiên rằng, yếu tố quan trọng nhất của marketing thật ra không nằm ở chỗ bán sản phẩm. Peter Drucker, nhà lý thuyết quản lý hàng đầu cho rằng: “Nhưng mục đích của marketing là làm sao để biết và hiểu rõ khách hàng thật tốt sao cho sản phẩm hoặc dịch vụ thích hợp nhất với người đó, và tự nó sẽ bán được nó. Lý tưởng nhất, Marketing nên là kết quả từ sự sẵn sàng mua sắm. Từ đó, việc hình thành nên sản phẩm hoặc dịch vụ mới trở nên cần thiết để tạo ra chúng (sự sẵn sàng mua sắm để “tự nó bán được nó”)” (Drucker, Peter (1954). The practice of management. New York: Harper and Row Publishers. )

Các định nghĩa khác

  • Rào cản truyền thông (Communication barriers): Rào cản truyền thông là yếu tố cản trở các mục tiêu của truyền thông marketing. Những nguyên nhân chính là: Sự nhiễu và sự lộn xộn trong thông điệp, sự thờ ơ của người tiêu dùng, ngang giá thương hiệu và các ý tưởng hoặc chiến lược sáng tạo yếu kém. Sự nhiễu là một kích thích giác quan không liên quan làm mất tập trung của người tiêu dùng khỏi thông điệp marketing (ví dụ, những người nói chuyện gần đó khiến bạn khó nghe thấy một quảng cáo radio; hay quá trình truyền thông miệng làm lệch thông điệp cốt lõi muốn truyền đạt). Sự lộn xộn là số lượng nhiều và sự tập trung của nhiều quảng cáo được trình bày cho người tiêu dùng bất cứ lúc nào. Vì không thể phân chia sự chú ý, nên có giới hạn về mức độ có thể được xử lý và xử lý, điều đó có nghĩa là một thông điệp truyền thông mạnh mẽ cần phải nổi bật khỏi sự lộn xộn và được nghe thấy trên tiếng ồn. (Ang, 2014. “Principles of Integrated Marketing Communications”. Trang 11.)
  • Sự thờ ơ của người tiêu dùng là xu hướng của người tiêu dùng tránh né truyền thông marketing. Người tiêu dùng có thể không quan tâm, hoặc coi mình là “ngoài thị trường”, và như vậy họ cố gắng để ngăn chặn các thông điệp truyền thông; điều này được gọi là sự chú ý có chọn lọc. Ngoài ra, người tiêu dùng có thể “ở trong thị trường”, nhưng không nhận thức được sự tồn tại hoặc phổ biến của thương hiệu hoặc sản phẩm. Người tiêu dùng có xu hướng mua các nhãn hiệu quen thuộc và sẽ không được truyền cảm hứng để tìm kiếm các lựa chọn thay thế. Một cách tiếp cận mà các nhà tiếp thị sử dụng để vượt qua sự thờ ơ là tạo ra các ưu đãi, chẳng hạn như giá cả cạnh tranh hoặc phần thưởng cho khách hàng trung thành. (Ang, 2014. “Principles of Integrated Marketing Communications “. Trang 11.)
  • Thương hiệu cạnh tranh có nghĩa là hai thương hiệu cùng trong một ngành sản phẩm, không khác biệt đáng kể so với đối thủ cạnh tranh. Không có đề xuất giá trị riêng biệt, người tiêu dùng không có sở thích riêng hoặc không có nhóm khách hàng thân thiết của thương hiệu, và thay vào đó mua hoàn toàn dựa trên giá (Ang, 2014. “Principles of Integrated Marketing Communications”. Trang 12). Điều này không lý tưởng, vì truyền thông marketing hiệu quả làm tăng giá trị thương hiệu. Một mục tiêu quan trọng của truyền thông marketing là phát triển bộ nhận diện thương hiệu mạnh mẽ, độc đáo, cho phép thương hiệu được định vị tách biệt với đối thủ cạnh tranh.

Công việc của Marcom Manager là gì?

  • Tạo và triển khai kế hoạch tăng thị phần.
  • Vận hành hoặc tiến hành nghiên cứu thị trường.
  • Giám sát việc phân tích và đánh giá dữ liệu thị trường.
  • Phát triển chiến lược đặt giá và đặt ngân sách.
  • Cộng tác với các nhóm đa chức năng – từ sáng tạo, CNTT và sản xuất đến marketing sản phẩm và pháp chế – để tạo ra các tài liệu quảng cáo hiệu quả.
  • Phối hợp và quản lý đối tác, đại lý.
  • Tạo bản trình bày tiếp thị cho các bên liên quan.
  • Nhận được sự đồng ý cần thiết và đưa ra phê duyệt cuối cùng về tất cả các tài sản thế chấp, sản phẩm và khuyến mãi tiếp thị.
  • Phát triển lịch trình và duy trì thời hạn.

Trong một số tổ chức, người quản lý truyền thông marketing cũng có thể tham gia rất nhiều vào các dự án liên quan đến tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, cập nhật trang web, truyền thông xã hội và tự động hóa email. Đặc biệt, đối với Marcom Manager, để lập một bản kế hoạch IMC Plan hoàn chỉnh, dù đơn giản hay phức tạp thì cũng bao gồm các nội dung như Insight, Big idea, 3 phase từ Trigger, Engagement đến Amplified

Adidas với chiến lược IMC – ứng dụng Marcom thực tế?

Adidas Group là công ty sản xuất đồ thể thao lớn thứ hai trên thế giới. Họ là một trong những nhà lãnh đạo trong việc đổi mới công nghệ. Nhóm Adidas có nhiều thương hiệu dưới sự bảo trợ của họ như Reebok, Taylor Made, CCM, cũng như Adidas. Adidas Group tiếp tục khiến mình nổi trội bằng cách thích ứng với nhu cầu của khách hàng trong một xã hội luôn thay đổi. Kể từ năm 1949, Adidas đã trở thành một công ty hàng đầu trong ngành công nghiệp may mặc thể thao.

Bối cảnh chiến dịch

Mặc dù Adidas là thương hiệu thể thao lớn thứ hai trên thế giới sau Nike nhưng Adidas vẫn khá “chật vật” tại thị trường Mỹ. Mỹ chiếm 40% thị phần giày trên toàn thế giới và dẫn đầu trong xu hướng giầy thể thao trên toàn thế giới. Nhưng năm 2015, Adidas đã tụt lại sau Under Armour trong doanh số bán lẻ của ngành may mặc thể thao và giày dép tại Mỹ.

Ngành công nghiệp may mặc thể thao thường bán những sản phẩm đẹp và “cool ngầu”, nhưng Adidas là đã không sản xuất được những sản phẩm như những gì người tiêu dùng muốn. Adidas đã có những bước tiến trong việc thay đổi chiến lược kinh doanh của họ để bù đắp cho sự mất mát này. Một chiến dịch IMC sẽ được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và mang lại sự phấn khích mới về thương hiệu Adidas để giữ chân khách hàng cũ và đồng thời tạo khách hàng mới.

Đối tượng chiến dịch IMC là gì?

Đối tượng đầu tiên là nhân viên của Adidas. Đây là công chúng quan trọng nhất mà một công ty có thể có. Các nhân viên chính là người sẽ làm việc chặt chẽ nhất với khách hàng và đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế và Marketing sản phẩm.

Tập đoàn Adidas có rất nhiều khách hàng do có nhiều thương hiệu khác nhau, điều đó giúp đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Để đáp ứng hiệu quả tất cả nhu cầu của khách hàng, Adidas chia khách hàng thành các nhóm cụ thể.

  • Khách hàng trung thành: Đây là những khách hàng yêu thích và gắn bó với thương hiệu Adidas. Đây là nhóm khách hàng quan trọng nhất. Do vậy, họ cần doanh nghiệp luôn cần quan tâm và đánh giá cao, cũng như công nhận họ.
  • Khách hàng cũ: Đây là những khách hàng trước đây đã mua các sản phẩm của Adidas nhưng đã chuyển sang các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Đây là những khách hàng mà Adidas cần cố gắng giành lại.
  • Khách hàng tiềm năng: Đây là những khách hàng mới mà Adidas hy vọng sẽ giành được song song với những khách hàng cũ đã từ bỏ công ty. Đây là những khách hàng chưa bao giờ ủng hộ thương hiệu Adidas nhưng với sự đổi mới mới họ muốn giành chiến thắng.
  • Các cổ đông: Là chủ sở hữu một phần của các cổ đông Adidas cảm thấy họ cần được thông báo và tham gia vào chiến dịch. Mặc dù doanh số bán hàng đã giảm ở Mỹ, nhưng cổ phiếu của Adidas vẫn tăng. Với chiến dịch mới để tăng doanh thu ở Mỹ, nó đã mang lại cho công ty nhiều lợi thế hơn cho các nhà đầu tư muốn có vốn chủ sở hữu trong công ty.
  • Chính phủ: Adidas là một công ty thuộc sở hữu công khai, có nghĩa là chính phủ đóng vai trò riêng biệt trong các quy định của công ty. Chính phủ cũng phải làm việc với các công ty như Adidas vì nó là một trong những công ty lớn và có giá trị nhất trên thế giới, vì vậy nếu Adidas thành công thì chính phủ Mỹ cũng vậy. Bằng cách tạo ra doanh thu thông qua một chiến lược kinh doanh mới, chính phủ sẽ hỗ trợ những nỗ lực của họ.

Thông điệp chiến dịch IMC

Adidas cung cấp thời trang thể thao sáng tạo và với công nghệ và chất lượng hiện đại giúp mọi người thành công ở mọi thứ họ làm. Hơn nữa, Adidas là một trong những thương hiệu có giá trị biểu tượng và dễ nhận biết nhất trên thế giới.

Tổng quan mục tiêu và kế hoạch

Mục tiêu

  • Chiến dịch giúp tăng 25% nhận thức về chiến lược kinh doanh mới.
  • Tăng 35% sự công nhận trong số các đối tượng truyền thông IMC của chiến dịch về giá trị mới và cải tiến về chất lượng của các sản phẩm Adidas ở Mỹ so với các đối thủ cạnh tranh.
  • Gia tăng 40% trong nhận thức thương hiệu Adidas trong tất cả các công chúng chủ chốt.
  • Tăng thị phần lên 40% trong ngành thể thao bằng cách thu hút khách hàng mới và giành lại khách hàng trước đó.
  • Tăng doanh thu bán hàng lên 25% bằng cách quảng bá chất lượng giá cả phải chăng và các sản phẩm sáng tạo mà nhóm Adidas cung cấp

Kế hoạch

  • Với nhóm nhân viên, Adidas sử dụng bản tin, cuộc họp của bộ phận công ty, Marketing trực tiếp, với mục tiêu tạo ra các chương trình đào tạo tốt hơn.
  • Với nhóm khách hàng, phương tiện truyền thông được sử dụng bao gồm tờ rơi, TVC, truyền thông, email, tài trợ. Mục tiêu để gửi thông điệp chất lượng sản phẩm mới, cải tiến và mang đến một sự hào hứng về thương hiệu cho khách hàng, cũng như xác lập quan hệ đối tác.
  • Với các cổ đông, Adidas thông qua quan hệ nhà đầu tư truyền thông để tăng trưởng bằng cách thể hiện tất cả các ý tưởng mới và kế hoạch với cổ đông để được triển khai cho công ty.
  • Với chính quyền, Adidas mang đến lợi ích mở rộng toàn cầu an ninh quốc gia và nhập khẩu an toàn, thông qua Cơ quan Quốc hội.

Các công cụ IMC được triển khai

Sau đây là danh sách các chiến lược quan hệ chiến lược và chiến lược Marketing sẽ được thực hiện trong suốt chiến dịch.

Bản tin và Email

Chiến thuật này sẽ được sử dụng hàng tháng với các bản tin và hàng tuần với các Email để cho nhân viên. Vì nhân viên là chìa khóa quan trọng nhất đối với Adidas, họ cần phải tin vào sứ mệnh và mục tiêu của Adidas nhiều hơn bất kỳ ai khác. Họ cần phải biết mọi thứ đang xảy ra với Adidas. Nền tảng này cũng có thể được sử dụng để công nhận những nhân viên chăm chỉ và nổi bật nhất công ty.

Báo cáo hàng năm

Báo cáo hàng năm đã mang lại lợi ích trong việc quản lý mối quan hệ giữa Adidas Group và tất cả các cổ đông, đối tác quan trọng của họ. Nó sẽ trình bày cái nhìn sâu sắc đến mọi khía cạnh của công ty, chẳng hạn như tầm nhìn của công ty, sứ mệnh, sản phẩm và thông tin tài chính. Điều này sẽ được tạo ra mỗi năm một lần, vào báo cáo tài chính cuối năm.

Content Marketing

Adidas muốn chứng minh cho khách hàng thấy chất lượng sản phẩm của họ xứng đáng là người dẫn đầu trong ngành thể thao. Các câu chuyện truyền thông sẽ giúp họ đạt được điều này. Nhóm Adidas sẽ gửi câu chuyện của họ ra 2 tháng trước khi họ muốn câu chuyện của họ xuất hiện trên các phương tiện truyền thông.

Sản phẩm mới 

Chiến thuật này quan trọng trong việc tạo ra những câu chuyện thú vị xung quanh thương hiệu mà Adidas mong muốn tạo ra để giành thêm thị phần. Khách hàng chính là mục tiêu chính khi ra mắt sản phẩm mới. Do vậy khách hàng cần có đầy đủ nhận thức về tất cả các sản phẩm mới mà nhóm Adidas sản xuất để giữ vững danh hiệu nhà lãnh đạo trong ngành công nghiệp đồ thể thao. Chúng sẽ được phát hành trên trang web và cũng được gửi qua email cho tất cả khách hàng cũ, hiện tại và tiềm năng mới.

Quảng cáo

Một chiến dịch quảng cáo sáng tạo phải được thực hiện để tạo ra một câu chuyện thú vị xung quanh thương hiệu và thể hiện được đầy đủ các điểm đặc biệt của sản phẩm mới. Thời điểm quan trọng nhất để quảng cáo là mùa lễ, chính là thời điẻm Adidas kiếm được hơn 80% lợi nhuận hàng năm. Các quảng cáo nhỏ hơn sẽ được áp dụng thường xuyên trong suốt cả năm, nhưng số tiền nhiều nhất sẽ được chi tiêu cho mùa lễ.

Sự kiện đặc biệt

Nhóm Adidas sẽ sử dụng các sự kiện và chương trình khuyến mãi để tặng thưởng cho khách hàng trung thành và thu hút khách hàng mới mua sắm sản phẩm của họ.  Sẽ có các giao dịch (deals) và giảm giá cho các thành viên có tài khoản Adidas hàng tháng và cũng giảm giá cho các thành viên mới, để từ đó có thể biến họ thành khách hàng trung thành, thành những người sẽ luôn chọn Adidas làm thương hiệu đồ thể thao của họ.

Truyền thông xã hội (Social Media)

Adidas sẽ thực hiện một chiến dịch truyền thông xã hội mạnh mẽ để nâng cao nhận thức về thương hiệu của họ và cho công chúng biết tất cả mọi thứ xảy ra với Adidas. Đây sẽ là một chiến thuật dễ dàng và rẻ tiền để quảng bá chiến dịch “Adidas: Người dẫn đầu trong thể thao trong hơn 60 năm”. Adidas có thể sử dụng các nền tảng như Facebook, Twitter và Instagram để thông báo cho công chúng về các chiến dịch như ngày phát hành, khuyến mãi, sự kiện đặc biệt, giảm giá và liên kết đến trang web của họ chỉ với một cú nhấp chuột. Kết hợp phương tiện truyền thông xã hội vào chiến dịch cũng sẽ thúc đẩy sự tham gia, cởi mở, trò chuyện, cộng đồng và kết nối giữa những người công khai quan trọng.

Nghiên cứu đánh giá

Nghiên cứu thị trường bao gồm: Market Size (Độ rộng của thị trường) Competition (Độ cạnh tranh), Market Share (Thị phần). Ngoài ra việc phân tích đối thủ cạnh tranh cũng sẽ giúp bạn đánh giá được hoạt động truyền thông của đối thủ đồng thời tiếp thu được những ý tưởng hay cho kế hoạch của mình.

Nghiên cứu phải được tiến hành để theo dõi thành công của chiến dịch trong suốt cả năm và thực hiện điều chỉnh chiến dịch khi cần. Nghiên cứu tập trung vào nhu cầu và mong muốn của khách hàng cùng với thị phần của công ty. Nghiên cứu phải được thực hiện trước, trong và sau chiến dịch để đánh giá tổng kết quả.

KẾT LUẬN

Nói như vậy, tại sao marketer trẻ lại phải học bản kế hoạch phức tạp đến như vậy? Mỗi kiến thức phức tạp trong một IMC Plan được ví như nhiều loại công cụ khác nhau. Khi bạn đã có trong tay và sử dụng thành thạo tất cả mọi thứ, thì chẳng phải trong bất kì trường hợp nào đi nữa, bạn đều dễ dàng tìm cho mình một công cụ nhưng lại vô cùng hiệu quả. Có thể nói, thành công đến từ những điều cực kì đơn giản, và đơn giản bắt nguồn từ phức tạp.

Vậy các bước để lập và triển IMC Plan cho doanh nghiệp như thế nào? Làm thế nào để xây dựng một kế hoạch đầy đủ các phần và sau đó vận dụng linh hoạt nó trong công việc thực tế? Hãy liên hệ Ready Agency để tìm cho mình chìa khóa những cánh cửa trên nhé.

-----------------------------------------------------
READY AGENCY - FULL SERVICE MARKERTING AGENCY
Địa chỉ: Toà nhà Vinpi
    157 Nguyễn Hữu Cảnh, P.22, Q.Bình Thạnh
Hotline: +84-339-801-578
Email: contact@ready-agency.com